Một số điểm mới của Luật Doanh nghệp năm 2020

Ngày 17/6/2020, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV thông qua Luật Doanh nghiệp, Luật này có nhiều cải cách quan trọng với mục tiêu hoàn thiện khung khổ pháp lý về tổ chức quản trị doanh nghiệp đạt chuẩn mực của thông lệ tốt và phổ biến ở khu vực và quốc tế; thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, thu hút vốn, nguồn lực vào sản xuất kinh doanh; góp phần nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh.

Luật Doanh nghiệp năm 2020, có 10 chương, 218 điều; Sở Tư pháp xin giới thiệu một số điểm mới trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sau đây gọi tắt là Luật 2020), như sau:

Thứ nhất, về nguyên tắc áp dụng Luật 2020 và luật khác: Trường hợp luật khác có quy định đặc thù về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp (DN) thì áp dụng quy định của luật đó.

Thứ hai, làm rõ trong các hành vi bị nghiêm cấm:

- Cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN, yêu cầu người thành lập DN nộp thêm giấy tờ khác trái với quy định của Luật này; gây chậm trễ, phiền hà, cản trở, sách nhiễu người thành lập DN và hoạt động kinh doanh của DN.

- Ngăn cản chủ sở hữu, thành viên, cổ đông của DN thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

- Hoạt động kinh doanh dưới hình thức DN mà không đăng ký hoặc tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký DN hoặc DN đang bị tạm dừng hoạt động kinh doanh.

- Kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký DN và nội dung hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký DN.

- Kê khai khống vốn điều lệ, không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị.

- Kinh doanh các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; kinh doanh ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh trong quá trình hoạt động.

- Lừa đảo, rửa tiền, tài trợ khủng bố.

Thứ ba, rút ngắn thời gian báo trước khi tạm ngừng kinh doanh: Thời gian báo trước khi tạm ngừng kinh doanh của DN được rút ngắn từ chậm nhất 15 ngày (theo Luật Doanh nghiệp 2014)  xuống còn 03 ngày làm việc.

Thứ tư, Luật mở rộng quyền chuyển đổi của DN tư nhân (Điều 205) so với Luật 2014: DN tư nhân có thể chuyển đổi thành công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quyết định của chủ DN tư nhân nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

- DN được chuyển đổi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật này;

- Chủ DN tư nhân cam kết bằng văn bản chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả khoản nợ chưa thanh toán và cam kết thanh toán đủ số nợ khi đến hạn;

- Chủ DN tư nhân có thỏa thuận bằng văn bản với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc công ty được chuyển đổi tiếp nhận và tiếp tục thực hiện các hợp đồng đó;

- Chủ DN tư nhân cam kết bằng văn bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản với các thành viên góp vốn khác về việc tiếp nhận và sử dụng lao động hiện có của DN tư nhân.

Thứ năm, không được tăng sở hữu chéo: Các công ty không có cổ phần hoặc phần vốn góp do Nhà nước nắm giữ thực hiện góp vốn, mua cổ phần trước ngày 01/7/2015 không phải thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 195 của Luật này nhưng không được tăng tỷ lệ sở hữu chéo.

Thứ sáu, đối tượng là người quản lý DN, Kiểm soát viên và người đại diện theo ủy quyền mà không đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại điểm b khoản 5 Điều 14, khoản 3 Điều 64, khoản 3 Điều 93, khoản 3 Điều 101, các điểm a, b và c khoản 3 Điều 103, điểm d khoản 1 Điều 155, điểm b khoản 5 Điều 162 và khoản 2 Điều 169 của Luật này được tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đến hết thời gian còn lại của nhiệm kỳ.

Thứ bảy, giao Chính phủ quy định việc đăng ký và hoạt động của hộ kinh doanh.

Thứ tám, quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước:

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với DN.

- Bộ, cơ quan ngang Bộ chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc thực hiện nhiệm vụ được phân công trong quản lý nhà nước đối với DN.

- UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước đối với DN trong phạm vi địa phương.

- Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan có liên quan, UBND cấp tỉnh, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công, chịu trách nhiệm thiết lập kết nối, liên thông và chia sẻ thông tin với Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký DN các thông tin sau đây: Thông tin về giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, giấy chứng nhận hoặc văn bản chấp thuận về điều kiện kinh doanh đã cấp cho DN và quyết định xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính của DN; Thông tin về tình hình hoạt động và nộp thuế của DN từ báo cáo thuế; báo cáo tài chính của DN; Phối hợp, chia sẻ thông tin về tình hình hoạt động DN để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

Thứ chín, Luật quy định cơ quan đăng ký kinh doanh:

- Giải quyết việc đăng ký DN và cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN theo quy định của pháp luật;

- Phối hợp xây dựng, quản lý Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký DN; công khai, cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có yêu cầu theo quy định của pháp luật;

- Yêu cầu DN báo cáo về việc tuân thủ quy định của Luật này khi xét thấy cần thiết; đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ báo cáo của DN;

- Trực tiếp hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát DN theo nội dung trong hồ sơ đăng ký DN;

- Chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký DN, không chịu trách nhiệm về những vi phạm của DN xảy ra trước và sau khi đăng ký DN;

- Xử lý vi phạm quy định của pháp luật về đăng ký DN; thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký DN và yêu cầu DN làm thủ tục giải thể theo quy định của Luật này;

- Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Một số nội dung thay đổi quan trọng của Luật 2020 so với Luật 2014:

DN nhà nước: Luật 2020 quy định DN nhà nước là DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, còn có các DN do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88.

Đối tượng không được thành lập và quản lý DN: Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật 2014 thì có 06 nhóm đối tượng không được thành lập và quản lý DN. Luật 2020 quy định mới bổ sung một số đối tượng không được thành lập và quản lý DN như: Công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam (trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại DN); Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Thông báo mẫu dấu DN: Luật 2020 không quy định về việc thông báo mẫu con dấu của DN trước khi sử dụng.

Quyền của cổ đông phổ thông:

Luật 2014 quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có các quyền sau đây:

- Đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát;

- Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát;

- Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông;

- Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết. 

Theo quy định Luật 2020 thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền sau đây:

- Xem xét, tra cứu, trích lục số biên bản và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, báo cáo của Ban kiểm soát, hợp đồng, giao dịch phảithông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác, trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của của công ty;

- Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông;

- Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết. 

Tên địa điểm kinh doanh: Theo Luật 2014 thì tên địa điểm kinh doanh bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và các ký hiệu.

Ngoài quy định về chữ viết thì Luật 2020 bổ sung thêm tên địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên DN kèm theo cụm từ “địa điểm kinh doanh” đối với địa điểm kinh doanh.

Luật này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021./.


Tác giả: Kim Loan-Phòng PBGDPL

Kim Loan-Phòng PBGDPL