Nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức

Vừa qua, Quốc hội quy định tách bạch chế độ quản lý cán bộ, công chức (CBCC) và viên chức tại 02 Luật (Luật CBCC và Luật Viên chức) là cơ sở để đẩy mạnh cải cách chế độ công chức, công vụ, xây dựng và phát triển đội ngũ CBCC, viên chức có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, phù hợp với yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Thời gian qua, thực hiện 02 Luật đã phát sinh những bất cập cần khắc phục, đặc biệt là luật hóa chủ trương của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ.

Ngày 25/11/2019, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật CBCC và Luật Viên chức (sau đây gọi tắt là Luật). Những nội dung cơ bản của Luật được thể hiện như sau:

* Luật sửa đổi, bổ sung 6 nội dung của Luật CBCC:

Thứ nhất là, Luật không quy định CC trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập. Giáo Chính phủ quy định việc thực hiện chế độ CC đối với người làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí, phục vụ nhiệm vụ chính trị và phục vụ quản lý nhà nước.

Không quy định áp dụng Luật CBCC đối với người giữ chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp Nhà nước. Chính phủ quy định chi tiết chế độ quản lý, sử dụng đối với đối tượng này trong doanh nghiệp nhà nước.

Luật cũng giao Chính phủ quy định cụ thể đối với CBCC sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác (áp dụng đối với cả người có hành vi vi phạm trước 01/7/2020) thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, xóa tư cách chức vụ đã đãm nhiệm; gắn hệ quả pháp lý tương ứng với hình thức xử lý kỷ luật.

Thứ hai là, Luật giao Chính phủ quy định khung chính sách trọng dụng và đãi ngộ người có tài năng trong hoạt động công vụ, trên cơ sở đó phân cấp cho người đầu bộ, cơ quan Trung ương quyết định và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể đối với đối tượng thuộc phạm vi quản lý.

Thứ ba là, về tuyển dụng CC ngoài đối tượng cam kết làm việc 5 năm trở lên ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Luật bổ sung đối tượng xét tuyển đối với người học theo chế độ cử tuyển, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc và nhà khoa học trẻ tài năng. Luật cũng quy định rõ các đối tượng được tiếp nhận vào làm CC từ cấp huyện trở lên đối với viên chức, CB và CC cấp xã, người hưởng lương trong lực lượng vũ trang, người làm công tác cơ yếu, người giữ chức vụ, chức danh lãnh đạo trong doanh nghiệp nhà nước và người đã từng là CBCC. Giao Chính phủ quy định lộ trình thực hiện kiểm định chất lượng đầu vào CC, bảo đảm công khai, minh bạch, thiết thực, hiệu quả.

Thứ tư là, Công chức đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Luật này được “xét nâng ngạch” đối với 2 trường hợp sau: Một là, phải có thành tích xuất sắc trong hoạt động công vụ trong thời gian giữ ngạch CC hiện giữ, được cấp có thẩm quyền công nhận; Hai là, được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý gắn với yêu cầu của vị trí việc làm.

Thứ năm là, sửa cụm từ “phân loại đánh giá” thành “xếp loại chất lượng”, theo đó, Luật cũng quy định CBCC được xếp loại chất lượng với 4 mức như trước đây, nhưng bỏ cụm từ “nhưng còn hạn chế về năng lực” trong “hoàn thành nhiệm vụ” để thống nhất với quy định của Đảng.

Nội dung đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phải gắn với vị trí việc làm thông qua công việc, sản phẩm cụ thể; đối với CC lãnh đạo, quản lý còn phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ và không cao hơn mức xếp loại của cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp phụ trách; người đứng đầu cơ quan quản lý CC có thẩm quyền quy định cụ thể việc đánh giá CC theo quý, tháng hoặc tuần phù hợp với đặc thù công việc.

Thứ sáu là, về kỷ luật CBCC, Luật quy định 3 loại thời hiệu xử lý kỷ luật: 2 năm, 5 năm và các trường hợp không áp dụng thời hiệu. Nâng thời hạn xử lý kỷ luật lên 90 ngày và 150 ngày; bổ sung quy định thời gian điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự không được tính vào thời hạn xử lý kỷ luật. Luật cũng quy định rõ việc bổ nhiệm khi bị kỷ luật.

* Luật sửa đổi, bổ sung 4 nội dung của Luật Viên chức:

Một là, tương tự như sửa đổi, bổ sung trong Luật CBCC, Luật cũng sửa đổi, bổ sung Luật Viên chức về đánh giá viên chức; thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật viên chức; xử lý kỷ luật đối với viên chức sau khi nghỉ việc, nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác.

Hai là, Luật giao Chính phủ quy định chi tiết về chuyển đổi đơn vị sự nghiệp sang mô hình doanh nghiệp và chế độ quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm tinh gọn, hiệu quả (trừ lĩnh vực y tế và giáo dục).

Ba là, áp dụng ký kết hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng đối với Viên chức được tuyển dụng mới từ 01/7/2020. Đồng thời, giao Chính phủ quy định rõ 3 trường hợp hợp đồng làm việc không xác định thời hạn: (i) tuyển dụng trước 01/7/2020; (ii) CBCC chuyển sang làm viên chức; (iii) người được tuyển dụng làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Luật cũng quy định trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập còn nhu cầu, viên chức đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định của pháp luật thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải ký kết tiếp hợp đồng làm việc với viên chức. Trường hợp không ký kết tiếp hợp đồng thì phải nêu rõ lý do bằng văn bản.

Bốn là, quy định đơn vị sự nghiệp công lập được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc nếu viên chức không đạt yêu cầu sau thời gian tập sự. Đồng thời, sửa đổi quy định về hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc để khắc phục tình trạng lợi dụng hưởng các chế độ này khi chuyển công tác hoặc trước khi nghỉ hưu.

Luật này có hiệu lực từ ngày 01/7/2020./.


Tác giả: Kim Loan

Kim Loan