Nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương

Nhằm luật hóa các chủ trương của Đảng tại các Nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị Khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương theo hướng quy định tiêu chí thành lập tổ chức, sắp xếp tinh gọn đầu mối, giảm cấp trung gian, quy định hợp lý số lượng cấp phó của tổ chức, giảm hợp lý số lượng đại biểu HĐND các cấp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp.

Ngày 22/11/2019, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sau đây gọi tắt là Luật). Luật này sửa đổi, bổ sung 5/50 điều của Luật Tổ chức Chính phủ và 38/143 điều của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Những nội dung cơ bản và điểm mới của Luật được thể hiện như sau:

* Luật sửa đổi, bổ sung 3 nội dung của Luật Tổ chức Chính phủ, cụ thể là:

Thứ nhất là, thẩm quyền của Chính phủ quy định về tiêu chí thành lập và số lượng biên chế tối thiểu để tổ chức, khung số lượng, tiêu chí thành lập và số lượng biên chế tối thiểu để tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện, các đơn vị trực thuộc cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; quy định về số lượng cấp phó tối đa của đơn vị trực thuộc cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện, đơn vị trực thuộc cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; quyết định về phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập.

Thứ hai là, thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ được ủy quyền thực hiện những nội dung thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quản lý công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, bỏ thẩm quyền quyết định các tiêu chí, điều kiện thành lập hoặc giải thể các cơ quan chuyên môn đặc thù thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện do chuyển nhiệm vụ này thuộc thẩm quyền Chính phủ.

Thứ ba là, thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được “cho từ chức”, “biệt phái”, “điều động, luân chuyển, biệt phái” đối với công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý để thống nhất với quy định của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức. Được quyền quyết định cụ thể số lượng cấp phó của vụ, văn phòng, thanh tra, cục, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ bảo đảm bình quân không quá 03 người trên một đơn vị.

Bỏ thẩm quyền “quyết định lập thành lập các tổ chức phối hợp liên ngành” để thực hiện thống nhất vấn đề này thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

* Luật sửa đổi, bổ sung 7 nội dung của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, cụ thể là:

- Quy định rõ khi phân cấp, phân quyền phải gắn với hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; bảo đảm các điều kiện về ngân sách, nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện; quy định cụ thể các trường hợp được thực hiện phân cấp, ủy quyền để tránh việc phân cấp, ủy quyền tràn lan.

- Mô hình tổ chức chính quyền địa phương được quy định theo hướng linh hoạt hơn, như:

+ Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

+ Chính quyền địa phương ở quận, phường là cấp chính quyền địa phương có HĐND và UBND, trừ trường hợp cụ thể Quốc hội quy định không phải là cấp chính quyền địa phương để phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý của từng đô thị.

+ Đơn vị hành chính cấp huyện ở hải đảo chia thành các đơn vị hành chính cấp xã thì tại đơn vị hành chính cấp xã tổ chức cấp chính quyền địa phương, trừ trường hợp cụ thể Quốc hội quy định không phải là cấp chính quyền địa phương.

+ Chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi thành lập đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt đó.

- Về tổ chức HĐND: Bổ sung quy định có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam vào tiêu chuẩn của đại biểu HĐND. Quy định rõ khung số lượng theo hướng giảm từ 10% đến 15% số lượng đại biểu HĐND ở từng loại hình đơn vị hành chính. Không quy định Chánh Văn phòng trong Thường trực HĐND cấp tỉnh và quy định rõ số lượng Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh; giảm 01 Phó Chủ tịch HĐND cấp huyện từ 02 người xuống còn 01 người; bổ sung Trưởng ban của HĐND cấp xã là Ủy viên Thường trực HĐND cấp xã. Quy định rõ nếu Trưởng ban hoạt động chuyên trách thì có 01 Phó Trưởng ban; nếu Trưởng ban hoạt động không chuyên trách thì có 02 Phó Trưởng ban.

- HĐND cấp xã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của cấp xã (do UBND cấp xã xây dựng) trước khi trình UBND cấp huyện phê duyệt.

- Quy định UBND cấp xã loại II có không quá 02 Phó Chủ tịch.

- Bộ máy giúp việc của chính quyền địa phương được quy định khái quát: HĐND và UBND cấp tỉnh, cấp huyện có cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động theo quy định của pháp luật, không quy định cụ thể tên các Văn phòng như trước.

- Quy định về trách nhiệm của đại biểu HĐND với cử tri, về tiếp xúc cử tri và thôi làm nhiệm vụ đại biểu HĐND về tổ chức lại các đơn vị hành chính không đạt tiêu chuẩn theo quy định.

Luật này có hiệu lực từ ngày 01/7/2020./.


Tác giả: Kim Loan

Kim Loan