Tìm hiểu sơ lược về người cần được giám hộ

          Để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi ..., pháp luật cho phép những người này được có người giám hộ.

          Giám hộ theo quy định Bộ luật Dân sự 2015 được hiểu là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

           Một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu; Người giám hộ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Một cá nhân, pháp nhân có thể giám hộ cho nhiều người.

         Điều kiện để làm người giám hộ, cá nhân làm người giám hộ phải đáp ứng những điều kiện sau:

          - Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

        - Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ;

         - Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác;

         - Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.

       Pháp nhân làm người giám hộ phải đáp ứng những điều kiện sau: có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ và có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

        Cá nhân cần được giám hộ, theo Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015 thì nhóm người sau đây cần được giám hộ, gồm có:

       - Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;

      - Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ;

       - Người mất năng lực hành vi dân sự;

       - Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

       Pháp luật dân sự chia người được giám hộ thành 02 nhóm: giám hộ đương nhiên và giám hộ được cử, chỉ định.

     Người được giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên (không còn cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con …), được xác định theo thứ tự ưu tiên, lần lượt như sau:

       (1) Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ;

      (2) Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ;

       (3) Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

       Người được giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:

       - Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ;

     - Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ;

       - Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

       Người được giám hộ được cử chỉ định, trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ; trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án nhân dân chỉ định người giám hộ.

       Đăng ký giám hộ, hồ sơ gồm có:

      + Tờ khai đăng ký giám hộ;

     + Văn bản cử người giám hộ (đối với giám hộ cử) hoặc giấy tờ chứng minh điều kiện giám hộ đương nhiên (đối với giám hộ đương nhiên). Trường hợp có nhiều người cùng đủ điều kiện làm giám hộ đương nhiên thì nộp thêm văn bản thỏa thuận về việc cử một người làm giám hộ đương nhiên;

     + Người yêu cầu giám hộ phải xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là: hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc các giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân. Trường hợp cơ quan tiếp nhận hồ sơ chưa thể tra cứu qua hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư  về quá trình cư trú thì còn phải xuất trình giấy tờ chứng minh nơi cư trú để xác định thẩm quyền đăng ký giám hộ.

     + Văn bản ủy quyền trong trường hợp ủy quyền đăng ký giám hộ phải được chứng thực (trừ việc ủy quyền cho ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền này không phải chứng thực).

      - Nộp hồ sơ và nhận kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ hoặc người giám hộ thực hiện đăng ký giám hộ hoặc của Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người được giám hộ hoặc người giám hộ thực hiện đăng ký giám hộ giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài cùng cư trú tại Việt Nam.

      - Miễn lệ phí đăng ký giám hộ.

     - Thời hạn giải quyết: 03 ngày làm việc nếu đăng ký giám hộ tại Ủy ban nhân dân cấp xã và 05 ngày làm việc nếu đăng ký giám hộ có yếu tố nước ngoài.

     - Kết quả thực hiện: Trích lục đăng ký giám hộ.

      Việc chấm dứt, thay đổi giám hộ được thực hiện tại Ủy ban nhân dân đã đăng ký giám hộ trước đây. Cho dù là giám hộ đương nhiên hay giám hộ được cử, chỉ định thì vẫn phải tiến hành làm thủ tục đăng ký giám hộ. Người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ./.


Tác giả: Mạnh Cường

Mạnh Cường